Đang Tải Dữ Liệu....
game java tai vo lam tai youtube Tubemate
CHẾ BIẾN SÂU QUẶNG ĐẤT HIẾM TẠI VIỆN XẠ HIẾM
08/12/2015 15:02
CHẶNG ĐƯỜNG 25 NĂM

                                                                               
                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                         PGS.TS. Lê Bá Thuận

Viện trưởng Viện CNXH

 

I. Mở đầu

Việt Nam có nguồn quặng đất hiếm có trữ lượng lớn, phong phú với các khoáng đất hiếm khác nhau như như là bastnaesit, xenotim, monazit,….Hiện nay, các mỏ mới đã được phát hiện và đang được điều tra khảo sát.

            Trong 25 năm phát triển, Viện Công nghệ xạ hiếm (Viện CNXH) đã kiên trì thực hiện nghiên cứu về đất hiếm trong khuôn khổ của đề tài các cấp và đã có đóng góp quan trọng cho việc đánh giá trữ lượng, đánh giá giá trị kinh tế của các mỏ, phát triển công nghệ từ giai đoạn tuyển, phân hủy cho đến phân chia tinh chế thành nguyên tố riêng rẽ có độ sạch cao cũng như ứng dụng các sản phẩm đất hiếm.

             Bài viết này nhằm điểm lại các kết quả chính của Viện trong lĩnh vực nghiên cứu về đất hiếm Việt Nam trong thời gian trên 25 năm vừa qua.

II. Những kết quả nghiên cứu công nghệ chế biến quặng đất hiếm

2.1. Công nghệ thuỷ luyện quặng đất hiếm

            Từ những năm 1980, Phòng Hoá vật liệu thuộc Viện Nghiên cứu hạt nhân đã bắt đầu nghiên cứu công nghệ xử lý quặng đất hiếm Nậm Xe bằng axit sunphuric. Kết quả nghiên cứu đã xác định được quy trình công nghệ xử lý quặng nhằm thu đất hiếm và urani. Một đơn vị tiền thân khác của Viện CNXH là Viện 481 thuộc Bộ Quốc Phòng đã tham gia nghiên cứu đất hiếm trong khuôn khổ của chương trình Cấp Nhà nước 24C.

            Nghiên cứu thuỷ luyện quặng Nam Nậm Xe và Đông Pao bằng axit sunfuric (H2SO4)            đã được thực hiện từ năm 1986 đã xác định được sơ đồ và các điều kiện công nghệ thích hợp để đạt hiệu suất phân huỷ quặng tới 97%, tách mangan và các tạp chất, xử lý trên 30 tấn quặng đất hiếm Nam Nậm Xe và trên 10 tấn quặng Đông Pao, điều chế trên 9 tấn sản phẩm 70% REO trên dây chuyền thiết bị công suất 25-30 tấn oxit đất hiếm/năm. Trên cơ sở đó đã xác định được chi phí sản xuất cho 1 đơn vị sản phẩm.

            Đề tài phân huỷ quặng Đông Pao bằng tác nhân axit clohydric (HCl) 25% đã xây dựng được sơ đồ công nghệ, xác định điều kiện thích hợp để thu sản phẩm đất hiếm với hiệu suất thu hồi 82%, tách tạp chất mangan, các tạp chất khác và thori đạt giới hạn cho phép.

            Đề tài nghiên cứu phân huỷ tinh quặng đất hiếm Đông Pao bằng HCl kết hợp với  natri hidroxit (NaOH) và nghiên cứu xử lý tinh quặng Đông Pao bằng axit sunfuric sau khi nung oxy hoá quặng đã cho những kết quả khả quan (nâng hiệu suất phân huỷ tới 92% và trên 95% và đảm bảo môi trường tốt hơn) nhằm hoàn thiện 2 sơ đồ công nghệ dùng HCl và dùng H2SO4.

            Đã thử nghiệm phương pháp phân huỷ tinh quặng Yên Phú bằng phương pháp phân huỷ kiềm có áp suất.

            Đến nay Viện CNXH đã chủ động được việc sản xuất sản phẩm tổng oxit đất hiếm cho các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng các sản phẩm đất hiếm vào các sản phẩm khác của Viện để cung cấp cho thị trường.

            Tại Hội thảo KHKT toàn quốc về đất hiếm lần thứ nhất tháng 12/1984, nhóm cán bộ khoa học thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Quốc gia đã trình bày báo cáo “Nghiên cứu xử lý hoá học để thu hồi tổng oxit đất hiếm và các sản phẩm khác trong sa khoáng ven biển”. Báo cáo đã cung cấp được các thông tin về monazit trong sa khoáng biển Việt Nam và các thông số công nghệ xử lý monazit bằng axit sunfuric, NaOH ở quy mô phòng thí nghiệm.

            Năm 1990, đề tài 50B.04.01 “Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ sản xuất clorua đất hiếm và một số hợp chất đất hiếm khác từ tinh quặng monazit Việt Nam” do Trung tâm Vật liệu hạt nhân tiến hành. Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, cán bộ của Trung tâm đã thiết kế, chế tạo hệ thống thiết bị thử nghiệm quy mô phòng thí nghiệm mở rộng để tiến hành quy trình công nghệ xử lý quặng monazit thu tổng đất hiếm. Đề tài đã cung cấp các thông số công nghệ và kinh tế kỹ thuật sản xuất quy mô thí nghiệm mở rộng.

            Năm 1991, Viện CNXH được Chính phủ Ấn Độ viện trợ Pilot xử lý monazit theo phương pháp kiềm, công suất 60 tấn quặng/năm. Đây là dây chuyền thiết bị công nghệ khá hoàn chỉnh và có quy mô lớn nhất ở nước ta trong hoạt động xử lý monazite. Nguyên liệu được đưa vào để xử lý trên hệ thống thiết bị này là tinh quặng monazit được tuyển từ sa khoáng biển chứa 95% khoáng vật monazit và được nghiền đến kích thước hạt khoảng 200 mesh.

            Trong khuôn khổ đề tài KC-09-12 đã tiến hành vận hành toàn bộ dây chuyền thiết bị Pilot monazit theo qui trình công nghệ xử lý của Ấn Độ, đống thời tiến hành nghiên cứu bổ sung, hoàn chỉnh quy trình công nghệ thích hợp với nguyên liệu Việt Nam nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm và hiệu suất thu hồi, xác định sơ bộ các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của sản phẩm. Đã xác định được các thông số công nghệ cơ bản của các đoạn như sau:

            Công đoạn phân huỷ: Tỷ lệ quặng:NaOH:H2O = 1:0,9:0,32; nhiệt độ phân huỷ T= 135-1400C; thời gian phân huỷ là 7-8 giờ. Kích thước hạt thích hợp khoảng 40 μm.

            Công đoạn hoá tách phốt phát trong khoảng thời gian 1 h; nhiệt độ T = 80-90oC; tỷ lệ lỏng/rắn = 6/l; thời gian để lắng là 8 – 10 giờ.

            Bùn hoà tách được rửa 3 lần sau đó đem hoà tách đất hiếm, còn dung dịch phốt phát được xử lý tiếp qua các công đoạn cô đặc, lọc, kết tinh, ly tâm, sấy thu sản phẩm phụ là phốt phát natri Na3PO4.12H2O.

            Hoà tách đất hiếm bằng axit HCl với tỷ lệ axit/quặng = 1/1; pH = 2,9-3,0.

            Sau khi lọc ép khung bản thu được bã chứa urani và thori được lưu giữ lại và dung dịch clorua đất hiếm được đem đi xử lý tách tạp chất.

            Tách bã Pb-Ra bằng thiết bị lọc ép khung bản. Dung dịch sản phẩm được cô đặc ở nhiệt độ 140oC, sau đó đóng khuôn sản phẩm clorua đất hiếm RECl3.6H2O.

            Kết quả nghiên cứu thử nghiệm đã xác định được quy trình công nghệ hoàn chỉnh xử lý monazit thu sản phẩm clorua tổng đất hiếm RECl3.6H2O và phốt phát natri Na3PO4.12H2O. Hiệu suất thu hồi đất hiếm đạt trên 70%, thu hồi sản phẩm phốt phát natri đạt trên 75%. Năng suất thiết bị đạt 250 kg quặng/ngày. Sơ bộ đã thu được các số liệu kinh tế để tính toán giá thành sản phẩm.

            Sau 6 năm đưa Pilot vào hoạt động nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm, Viện đã sản xuất được trên 6 tấn clorua đất hiếm và trên 6 tấn Na3PO4 với hiệu suất thu hồi 700 kg RECl3/1 tấn tinh quặng, và 750 kg NaPO4/1 tấn tinh quặng. Chất lượng sản phẩm thu được tương đương với sản phẩm thương mại của Ấn Độ.

2.2. Công nghệ phân chia các nguyên tố đất hiếm

            Cùng với các nghiên cứu về xử lý tinh quặng và ứng dụng đất hiếm Việt Nam, Viện CNXH được đánh giá là một đơn vị hàng đầu trong nước về nghiên cứu đất hiếm Việt Nam. Theo hướng nghiên cứu dùng phương pháp hoá học phân chia nguyên tố đất hiếm, Viện đã nghiên cứu công nghệ và đã thực hiện phân chia 3.000 kg tổng hydroxit đất hiếm Đông Pao. Quy mô mẻ phân chia là 100kg và 200kg. Những đặc điểm cơ bản của công nghệ này như sau: Sấy RE(OH)3 ở nhiệt độ 200 – 300oC trong 2-3 giờ; Hoà tan RE(OH)3 đã sấy bằng HCl (6%) trong 12 giờ, duy trì pH cuối = 1 trong 2 giờ, để qua đêm, xi phông dung dịch trong và rửa kết tủa Di(OH)3 trên máy li tâm; Kết tủa Di từ dung dịch RECl3 bằng khí NH3 pha loãng với không khí, nâng pH từ từ tới 7,5 để lắng qua đêm, xi phông và lọc rửa kết tủa Di(OH)3 trên máy li tâm. Dung dịch LaCl3 được kết tủa ở pH = 9 bằng soda; Kết tủa Didim được hoà tan lại bằng HCl 6%, chỉnh pH = 6, oxi hoá Ce(III) bằng H2O2, lọc thu hồi xeri và dung dịch tiếp tục sục NH3 như trên.

            Công nghệ này là khả thi ở quy mô lớn và đã thu được xeri có hàm lượng 94-96% với hiệu suất 90-95%; lantan có độ sạch 93-95% với hiệu suất 80-85% và didim hàm lượng 70-72% với hiệu suất 95-96%.

            Ngoài nguyên liệu đầu là tổng đất hiếm dạng hydroxyt Đông Pao, một nguyên liệu khác được sản xuất lượng lớn tại Viện CNXH là tổng đất hiếm dạng clorua từ monazit. Mục tiêu của đề tài “Xây dựng công nghệ phân chia các NTĐH nhóm nhẹ đạt độ sạch kỹ thuật trên cơ sở dây chuyền xử lý monazit của Ấn Độ” thực hiện nhằm bổ sung trực tiếp công đoạn phân chia đất hiếm kỹ thuật sau khi thu được clorua đất hiếm để sản xuất các đất hiếm dạng kỹ thuật như xeri (92%), lantan (90%), didim (61%) và thể giàu nhóm nặng (~ 30%).

 Hướng phân chia tinh chế các nguyên tố đất hiếm bằng kỹ thuật sắc ký trao đổi ion có các công trình luận văn tiến sỹ và Đề tài: “Hoàn thiện các quy trình công nghệ chế biến các sản phẩm từ monazite và ferguzonite Việt Nam” (1994-1995, MS: KC-09-12) do Trung tâm Vật liệu hạt nhân thực hiện. Nghiên cứu đã xây dựng được quy trình phân chia nguyên tố Nd, Pr và La bằng phương pháp sắc ký trao đổi ion với tác nhân làm chậm là Zn2+ và quy trình phân chia nguyên tố đất hiếm nhóm nặng Yên Phú với tác nhân làm chậm là Cu2+.

            Hướng phân chia tinh chế NTĐH bằng phương pháp chiết dung môi là hướng được thực hiện trong nhiều năm, bắt đầu từ năm 1990. Phương pháp chiết dung môi dùng các tác nhân chiết công nghiệp như TBP, DEHPA, PC88A,... để phân chia NTĐH được xem là giải pháp công nghệ chính sản xuất lượng lớn các NTĐH có độ tinh khiết cao. Đặc điểm nổi bật của phương pháp này là tính liên tục cao, năng suất lớn và khả năng tự động hoá quá trình sản xuất.

            Viện CNXH đã giải quyết tất cả vấn đề trên từ điểm xuất phát số không. Viện CNXH đã quyết tâm xây dựng dự án quốc tế về công nghệ chiết đất hiếm để đề xuất lên IAEA và được IAEA đồng ý tài trợ. Nhờ dự án này, Viện có được sự hỗ trợ có hiệu quả của IAEA như chuyên gia Ấn Độ sang giúp về công nghệ chiết đất hiếm, có được thiết bị nghiên cứu đồng bộ, thiết bị chiết 60 bậc với dung tích 40 lít/bậc và dung môi chiết như PC88A, Aliquat 336, v.v. .

Kiên trì với hướng nghiên cứu đất hiếm nhằm khai thác sử dụng nguồn quặng đất hiếm của nước nhà, từ năm 2001 đến 2008, ngay sau khi liên doanh đất hiếm giữa Việt Nam – Hàn Quốc phá sản, Viện CNXH đã nối kết và thực hiện hợp tác với Viện Khoa học Địa chất và Tài nguyên Hàn Quốc (KIGAM) về lĩnh vực đất hiếm trong khuôn khổ hợp tác nghị định thư về khoa học công nghệ song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Thông qua hợp tác này, Viện CNXH đã nghiên cứu và hoàn thiện một số công nghệ chế biến tinh quặng đất hiếm Việt Nam, chủ yếu chế biến quặng đất hiếm Yên Phú và quặng đất hiếm Đông Pao ở quy mô pilot.

           

Trên cơ sở đề tài và công trình kể trên, các vấn đề cơ bản sau đây đã và đang được giải quyết:

            - Tìm hiểu sâu tính chất, đặc trưng của các hệ chiết phân chia NTĐH như các hệ chiết với tác nhân TBP (trường hợp Ce(IV)); PC88A, DEHPA, Naphtalic axit (đối với tất cả NTĐH (III) và Ce(IV), Aliquat 336 (đối với Nd(III), Pr(III), Y(III)).

            - Mô phỏng toán học hệ chiết bằng phương pháp kinh nghiệm, phương pháp mạng nơ-ron nhân tạo và phương pháp support vector machine.

            - Mô phỏng quá trình chiết phân chia các NTĐH. Tính toán các thông số chiết tối ưu theo phương pháp mô phỏng được phát triển. Xây dựng phầm mềm mô phỏng quá trình chiết phân chia như phần mềm RESOLEX và cho phép xác định nhanh chóng các thông số chiết tối ưu.

            - Áp dụng kỹ thuật tính toán khác nhau để tính toán thông số chiết tối ưu. So sánh với các thông số tính theo phương pháp mô phỏng trên.

            - Xây dựng công nghệ tinh chế và kiểm chứng thực nghiệm công nghệ chiết phân chia như phân chia tinh chế La, Ce, Nd, Gd, Sm, Y, Dy, Eu. v.v. Tiến hành phân chia nhóm (đối tổng đất hiếm Yên Phú và đất hiếm Đông Pao) và phân chia nguyên tố đất hiếm nhóm nhẹ đã được thực hiện quy mô bán pilot trên thiết bị chiết 4 lít/bậc với dung môi tiên tiến (PC88A, Aliquat 336, naphthenlic axit,…).

Năm 2011 đánh đấu sự phát triển vượt bậc nghiên cứu đất hiếm là dự án Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao công nghệ Đất hiếm (RTTC) và năm 2013 thành lập trung tâm  Nghiên cứu và Chuyển giao Công nghệ Đất hiếm thuộc Viện CNXH. Dự án RTTC được thành lập trên khuôn khổ của Thỏa thuận giữa hai chính phủ Việt Nam và Nhật Bản về phát triển nền công nghiệp đất hiếm tại Việt Nam được thủ tướng hai nước ký ngày 31/10/2010. Việc triển khai dự án này đã có tác dụng các mặt sau đây:

Lần đầu tiên, được trang bị thiết bị tương đối đồng bộ cho việc nghiên cứu tuyển khoáng, thủy luyện và phân chia tinh chế đất hiếm. Tổng thiết bị do chính phủ Nhật Bản cung cấp thông qua tập đoàn JOGMEC cung cấp lên đến 3 triệu USD. Ngoài ra, hàng năm Phía Nhật bản hộ trỡ chi phí nghiên cứu tại Việt Nam và Nhật Bản. Tổng chi phí lên đến 5,0 triệu USD. Các thiết bị này chủ yếu thiết bị quy mô pilot. Các công ty Nhật Bản như Japan Oil, Gas and Metal National Corporation (JOGMEC), Toyota Tshusho Corporation, Mishubishi Material Techno Co. và Nippon Yttrium Co. Ltd. tham gia tích cực vào hợp tác này.

Kết quả hợp tác trong thời gian 05 năm cho kết quả sau:

-         Xây dựng công nghệ tuyển khoáng cho loại quặng đất hiếm Đông Pao loại A và B.

-         Xây dựng công nghệ thủy luyện tinh quặng đất hiếm Đông Pao

-         Xây dựng công nghệ chiết phân chia nguyên tố đất hiếm nhẹ (La, Ce, Pr, Nd) trung (Sm, Eu, Gd) và nặng Dy quy mô pilot.

-         Xây dựng quy trình xử lý chất thải của quá trình chế biến, trong đó có chất thải chứa nhân phóng xạ tự nhiên NORM.

-         Dư án RTTC đã nghiên cứu và xử lý 20 tấn quặng Đông Pao, thu nhận  5 tấn tinh quặng, 2 tấn tổng đất hiếm và các oxit sạch La2O3, CeO2, Nd2O3, Pr6O11,  và từ tổng đất hiếm trung năng thu nhận Sm2O3,  Eu2O3, Gd2O3 và Dy2O3 có độ sạch 99% đến 99,9 %.

-         Đã đào tạo đội ngũ cán bộ, đặc biệt cán bộ trẻ có năng lực, làm chủ phương tiện nghiên cứu (thiết bị phân tích, thiết bị tuyển, nung phân hủy, thiết bị hòa tách, thiết bị chiết dung môi,...) và làm chủ công nghệ chế biến đất hiếm, đặc biệt công nghệ chiết dung môi phân chia tinh chế đất hiếm. Các công nghệ trên đã được thử nghiệm quy mô pilot và hoàn toàn có khả năng chuyển giao cho các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện thực hiện quy mô công nghiệp.

Cùng với nghiên cứu tập trung vào quặng đất hiếm Đông Pao, Viện CNXH còn nghiên cứu chế biến quặng đất hiếm Yên Phú trong khuôn khổ của đề tài Nhà nước: “Nghiên cứu công nghệ điều chế một số sản phẩm đất hiếm có độ sạch cao từ nguồn khoáng đất hiếm Việt Nam”.

Nhóm nghiên cứu của Viện liên tục cải tiến và xây dựng phần mềm mô phỏng cho quá trình chiết dung môi. Các kỹ thuật mô hình hóa được cải tiến và đã áp dụng tốt cho việc xây dựng phần mềm RESOLEX.

Các kết quả nghiên cứu qua quá trình dài cho phép Viện CNXH thực hiện báo cáo đầu tư và báo cáo đánh giá tác động môi trường cho dự án chế biến đất hiếm Yên Phú và tư vấn cho dự án đầu tư và ĐTM dự án đất hiếm Đông Pao.

Thành công lớn nhất trong lĩnh vực này của Viện CNXH là đã hoàn toàn làm chủ công nghệ sản xuất lượng lớn các oxit đất hiếm tinh khiết riêng rẽ bằng phương pháp chiết lỏng-lỏng, một phương pháp đã được thế giới áp dụng trong sản xuất đất hiếm ở quy mô công nghiệp.

            Có thể đánh giá rằng, trong lĩnh vực phân chia các NTĐH bằng phương pháp chiết lỏng lỏng, Viện CNXH là đơn vị hàng đầu trong số các Viện nghiên cứu phân chia đất hiếm ở Việt Nam. Cán bộ của Viện đã hoàn toàn làm chủ được phương pháp phát triển công nghệ tinh chế từ thiết kế chế tạo thiết bị đến nghiên cứu xác định thông số chiết và đã làm chủ được một số công nghệ tinh chế nguyên tố cụ thể qua triển khai phân chia lượng lớn như phân chia La, Ce, Nd, Pr, Gd, Eu, Dy, Y.

Các nghiên cứu trong lĩnh vực chế biến quặng đất hiếm nói chung và vấn đề phân chia tinh chế nói riêng vẫn đang được tiếp tục tại Viện CNXH. Hiện nay, Viện CNXH đang tham gia tích cực với các đối tác trong nước như Công ty Tập đoàn Thái Dương, Công ty Đất hiếm Lai Châu, Tập Đoàn Hưng Hải, Công ty CP đất hiếm Việt Nam,  v.v. và các đối tác nước ngoài để tăng cường công tác đầu tư khai thác chế biến các mỏ đất hiếm ở Việt Nam.

2.3. Các nghiên cứu về hợp kim và kim loại đất hiếm

            Viện CNXH đã xây dựng được công nghệ và thiết bị điện phân thu hợp kim các kim loại đất hiếm quy mô 500A. Điều chế được clorua đất hiếm khan bằng phương pháp khô, quy mô 30-40 kg/mẻ và điều chế được clorua đất hiếm khan bằng phương pháp ướt, quy mô 15-20 kg/mẻ, chất lượng hơn hẳn phương pháp khô, hàm lượng RECO3 là 85-95%, hàm lượng tạp chất gây độc hại thấp <0,5%. Lần đầu tiên ở Việt Nam đã nghiên cứu về động học quá trình kết tủa các kim loại đất hiếm trong muối nóng chảy của RCl3-KCl-NaCl-CaF2.

            Viện đã nghiên cứu quy trình công nghệ chế tạo hợp kim trung gian chứa đất hiếm. Bằng phương pháp công nghệ luyện hoàn nguyên nhiệt cácbon và nhiệt nhôm trong lò hồ quang điện đã thu được hợp kim fero-đất hiếm đạt hàm lượng 27-30% RE. Cùng theo phương pháp và hệ thiết bị trên đã sản xuất được hợp kim silico-canxi-đất hiếm (15% RE, 15% Ca). Đã hoàn thiện công nghệ, dây chuyền với hệ thống thiết bị lò hồ quang điện (năng suất 60 kg/mẻ) và hệ thống lò điện trung tần (năng suất 150 kg/mẻ). Hiện các sản phẩm của dự án đã được nhiều cơ sở sử dụng công nhận có chất lượng tốt, giá thành hợp lý và tiếp tục triển khai sản xuất theo nhu cầu thị trường.

            Năm 2012-2015 trong khuôn khổ của đề tài nhà nước “Nghiên cứu công nghệ điều chế một số sản phẩm đất hiếm có độ sạch cao từ nguồn khoáng đất hiếm Việt Nam”, Viện CNXH nghiên cứu điện phân muối nóng chảy hệ REF3-LiF-CaF2 và lần đầu tiên tại Viện điện phân Nd và Pr kim loại độ sạch > 98% với nguyên liệu là oxit hoặc cacbonat đất hiếm. Kết qủa quá trình mở ra khả năng triển khai quy mô công nghiệp. Kèm với quá trình này là công nghệ điều chế hợp chất cacbonat, oxit và  fluorua đất hiếm.

2.4. Nghiên cứu ứng dụng đất hiếm

            Viện CNXH đã nghiên cứu công nghệ sản xuất bột mài bóng ceri oxit. Trên cơ sở các sản phẩm ceri hàm lượng 98-99%, đã sản xuất ra bột mài bóng thuỷ tinh với tốc độ mài bóng 35 mg SiO2/cm2 ở đầu mài có vòng quay 600 vòng/phút. Sản phẩm này đã một thời gian dài chiếm ưu thế trên thị trường bột mài bóng thuỷ tinh ở một số tỉnh phía Bắc nhưng hiện nay đang phải cạnh tranh gay gắt với hàng Trung Quốc do cả về mặt chất lượng và giá cả.

            Việc áp dụng đất hiếm trong lĩnh vực nông nghiệp chủ yếu phân bón vi lượng cho cây chè đã được liên tục nghiên cứu từ năm 1998 đến nay thông qua một số đề tài. Các nghiên cứu ứng dụng đất hiếm trong nông nghiệp đã có triển vọng tốt phục vụ cho nông nghiệp, tăng năng suất cây trồng.

III. Kết luận

             Trong hơn 25 năm qua, cán bộ của Viện CNXH đã thực hiện nhiều nghiên cứu quan trọng trong tất cả lĩnh vực chế biến quặng đất hiếm Việt Nam từ nghiên cứu tuyển khoáng, đến phân hủy và phân chia tinh chế và nghiên cứu ứng dụng. Cán bộ của Viện đã làm chủ công nghệ và phát huy công nghệ chế biến thông qua nghiên cứu của mình. Giai đoạn 2011-2015 đánh dấu sự phát triển vượt bậc nhiều mặt trong nghiên cứu đất hiếm, bước đầu có đóng góp quan trọng vào vấn đề tư vấn, chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp.

            Tuy có thành tự quan trọng, các nghiên cứu đất hiếm cần được tiếp tục để tương xứng với tài nguyên hiện có của Việt Nam. Các hướng nghiên cứu cơ bản là:

Xây dựng công nghệ sạch, thân thiện môi trường trong tất cả cả lĩnh vực: tuyển, thủy luyện (giảm nhiệt độ, tận dụng và sử dụng hết các tác nhân đất hiếm, fluor, ...) và phân chia tinh chế (công nghệ chiết siêu liên kết, công nghệ không dùng tác nhân xà phòng hóa, công nghệ thay thế NaOH, NH3.H2O bằng tác nhân xà phòng hóa khác,...).

Thu nhận sản phẩm U, Th, đất hiếm từ quặng phóng xạ như monazite phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên năng lượng, vật liệu hạt nhân nguồn cho tương lai. Giải quyết tốt vấn đề quản lý chất thải chứa các nhân phóng xạ của quá trình chế biến.

Phát huy giá trị gia tăng của các sản phẩm đất hiếm như xây dựng công nghệ chế tạo sản phẩm đất hiếm kim loại, sản phẩm từ tính, sản phẩm chất huỳnh quang,...

            Trong thời gian tới, với kinh nghiệm và  kết quả nhiều năm nghiên cứu, Viện CNXH chắc chắn phát huy kết quả nghiên cứu đạt được, đóng góp quan trọng, trực tiếp cho nền công nghiệp đất hiếm Việt Nam đang hình thành, nhằm khai thác có hiệu quả, bền vững, thân thiện môi trường tài nguyên đất hiếm Việt Nam, góp phần tích cực công cuộc hiện đại hóa đất nước.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Tuyển tập công trình khoa học 1985-2000, Viện CNXH, Hà Nội, 2002.

2. Đỗ Ngọc Liên, Tổng kết thành tựu 25 năm nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng của các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực công nghệ xạ hiếm và của Viện CNXH. Báo cáo tổng kết đề tài, MS: CS/00/03-14. Hà Nội 11/2001.

3. Dự án TC VIE/3/004: Rare earth extraction technology;1995-1999.

4. Các báo cáo tổng kết của các đề tài KH&CN thuộc Viện CNXH và các luận án, luận văn của các NCS, học viên thực hiện tại Viện giai đoạn 1985 đến 2015:

+ Hoàng Thị Lan Phương, Nghiên cứu điều kiện phân chia hỗn hợp nguyên tố đất hiếm phân nhóm ytri bằng phương pháp sắc ký trao đổi ion, Luận văn Tiến sỹ, Hà Nội 1994.

+ Phạm Đức Roãn, Nghiên cứu các điều kiện phân chia hỗn hợp oxit đất hiếm Yên Phú bằng phương pháp chiết lỏng - lỏng, Luận văn Tiến sỹ, Hà Nội 1995.

+ Hoàng Nhuận, Nghiên cứu các điều kiện tách riêng rẽ xeri, lantan, praseodim, neodim từ tinh quặng đất hiếm Đông Pao, Luận văn Tiến sỹ, Hà Nội 2005.

+ Nguyễn Đức Vượng, Phân chia tinh chế Sm, Eu, Gd từ tổng đất hiếm nhóm trung và ứng dụng phức chất Eu chế tạo mằng chuyển hóa ánh sáng” Luận văn Tiến sỹ, Hà Nội 2007.

+ Nguyễn Văn Hải, Mô hình hóa quá trình chiết Ytri và một số nguyên tố đất hiếm khác bằng PC88A và Aliquat 336.